Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

THỜI GIAN VÀ CUỘC SỐNG – ĐỐI DIỆN VỚI THỰC TẾ - Đức Hạnh cùng quý thi hữu

   


 

THỜI GIAN VÀ CUỘC SỐNG

 

Hoa kia còn biết giờ tàn

Đời người sinh tử vội vàng hơn hoa

Thì giờ chớ để trôi qua

Tuổi xuân là những món quà Trên ban

Tình yêu nhiệt huyết chứa chan

Hãy luôn phấn đấu kẻo tàn ước mơ...

Thời gian chẳng có đứng chờ

Hãy nhanh thực hiện cho đời ngát hương

*

Dù cho bão tố bấp bênh

Quyết tâm chèo chống chẳng nên u buồn

Thuyền hoa cập bến cội nguồn

Bình minh rực rỡ tỏa muôn nẻo đường

Nhìn xem ngọn núi am tường

Biết dòng mạch chảy nuôi từng mầm xanh

Biết sông hòa nhập biển xanh

Không còn đơn lẻ, biến thành đại dương

*

Trăng nước còn rõ lối đi

Chân ta chớ để những gì cách ngăn

Tâm hồn chớ để đóng băng

Tình yêu chẳng để nhỏ nhen tầm thương

Chiếc lá còn biết vấn vương

Khi lìa khỏi cội nhớ thương rừng già

Dù cho cuộc sống chóng qua

Ngàn hoa vẫn nở đượm đà hương thơm.

*

Việc làm bác ái nở hoa

Chớ nên tham vọng mù loà lương tri

Chớ nên gây chuyện sầu bi

Cũng đừng chiếm đoạt điều chi của người

Việc làm chính nghĩa rạng ngời

Tâm hồn tinh luyện thảnh thơi tuổi già

Dù mai Thần chết ghé qua

Bóng chiều tử biệt thoát ra bên ngoài

*

Tựa xuân trời đất đổi thay

Chắp đôi cánh mới vươn bay lên Trời.

Tiền tài danh vọng thả rơi

Có chăng tội, phúc vẫn mời theo ta

Hành trang chuẩn bị về Nhà

Việc làm tại thế nở hoa ân tình

Thực hành đạo lý công minh

Đi trên đường Chúa thắm tình yêu thương…

 

Đức Hạnh

05 06 2022

 

Thơ Họa:

 

TÌNH YÊU VÀ CHÂN LÝ

 

Phù Dung sớm nở tối tàn

Thân ta cũng thế lẹ làng hơn hoa

Việc làm chẳng để ngày qua

Thanh xuân sức khỏe món quà Trời ban

Tinh thần khí thế chứa chan

Chương trình thực hiện chẳng tàn mộng mơ

Người ơi! Chớ có đợi chờ

Tình yêu hoài bão dòng đời tỏa hương.

 

Dẫu rằng sóng gió dập dềnh

Kiên cường lèo lái chớ nên u buồn

Đưa thuyền về tới biển nguồn

Tâm hồn phấn khởi thắm muôn ngã đường

Xem kìa! Vạn vật tỏ tường

Mặt trời chân lý trải từng non xanh

Bốn mùa đất trổ chồi xanh

Muôn hoa đua nở hướng quanh mặt trời

 

Mặt trời soi sáng đường đi

Thế nhân vững lước ngại gì cách ngăn

Cho dù bão tố giá băng

Đốt lên ngọn lửa khó khăn xem thường

Cội Nguồn rạng rỡ tơ vương

Tâm hồn nẩy nở tình thương chẳng già

Xuân đi xuân đến nào qua

Muôn hoa vẫn nở đậm đà hương thơm

 

Con đường sự thật ngát hoa

Con trên đường Chúa chẳng lòa lương tri

Con đường bác ái từ bi

Giải trừ vũ khí thực thi yêu người [1]

Dựng xây cuộc sống sáng ngời

Muôn nhà hạnh phúc thảnh thơi thái hoà

Chẳng thờ vật chất chóng qua

Tựa như bọt nước phù hoa tan tành 


Niềm tin Cứu cánh đẹp thay!

Tình yêu chắp cánh lượn bay giữa trời

Tâm hồn rộng rãi nào rơi

Trái tim nhân hậu gọi mời chúng ta

Đừng gây hiểm họa tan nhà…

Đừng gây khói lửa, tặng hoa nghĩa tình

Mặt trời công lý anh minh

Hoài mong nhân thế đượm tình mến thương…

 

Hồng Xuyến

05.06.2022

 

[1] Giải trừ vũ khí hạt nhân và những cuộc chiến tranh phi lý… hầu trên thế giới không còn tang thương chết chóc, để xã hội yên ổn, gia đình được đoàn tụ và hạnh phúc.

 

oOo

  

HÃY ĐỐI DIỆN VỚI THỰC TẾ

  

HÃY suy ngẫm! Thân là bụi đất 

ĐỐI mọi điều vật chất phù hoa 

DIỆN mạo rồi sẽ trôi qua 

VỚI buồn, vui cùng tuổi già thương tâm..! 


THỰC mạng sống ta không giữ được [1] 

TẾ cầu mong chẳng vượt trăm năm 

MỘT điều tâm niệm trong lòng 

CÁCH ta cảm nhận một vòng tử sinh 


BÌNH sinh sống biển tình rạng rỡ 

THẢN nhiên nhìn hoa nở hoa tàn 

CUỘC đời dù khổ hay nhàn 

SỐNG vui ý nghĩa chứa chan tình người 

a

SẼ đến lúc mùa thu tàn tạ 

DỄ dàng đi cảm tạ Cội nguồn 

CHỊU bao bão táp chẳng buồn 

HƠN nhau chấp nhận nỗi buồn hóa vui..! 

 

Đức Hạnh 

28 05 2022

 

[1] Tất cả ta có, nhưng không có gì cả! Vì chính bản thân ta, ta không giữ nổi..! chỉ lúc lìa đời, tội hay phúc vẫn giữ theo ta!

 

Thơ Họa: 

VÒNG LẨN QUẨN


HÃY nhìn lá rụng hoà trong đất 

ĐỐI thân trần đủ chất tinh hoa 

DIỆN xinh rồi cũng tàn qua 

VỚI tình muôn thuở có là trong tâm 


THỰC chất mộng mơ thầm khó được 

TẾ cầu sao khoẻ lướt tháng năm 

MỘT may tâm niệm thoả lòng...

CÁCH chi đành chịu qua vòng tử sinh 


BÌNH tâm khởi, ân tình muôn thuở 

ThẢN nhiên như hoa nở rồi tàn 

CUỘC trần sướng khổ, an nhàn 

SỐNG tâm nhân huệ hoà chan cùng người 


SẼ vào cuộc sắc, tươi một thuở 

DỄ khi về đất- trở cội nguồn 

CHỊU nhiều gió bụi mưa tuôn 

HƠN thân buồn, hóa vận buồn thành vui. 

Đặng Xuân Linh 

29-05-2022

 

 

NGUỒN NGHĨA KHÍ

 

HÃY ước vọng yên bình thế giới 

ĐỐI tình người phấn khởi trao hoa 

DIỆN bao nhung lụa…sẽ qua 

VỚI từng nghĩa cử chẳng già lương tâm 


THỰC tình cảm chan hòa cuộc sống 

TẾ trường sinh chẳng vọng tháng năm 

MỘT tình một nghĩa vui lòng 

CÁCH nhau nỗi nhớ thắm vòng nhân sinh 


BÌNH minh chiếu rạng ngời biển cả 

THẢN nhiên tình biến hóa không tàn 

CUỘC đời có khổ có nhàn 

SỐNG khai đạo nghĩa chứa chan duyên người 


SẼ đón nhận tương lai hiện tại 

DỄ gì quên nhớ mãi cội nguồn 

CHỊU muôn khổ ải nào buồn 

HƠN nguồn dũng khí cảnh buồn biến vui..! 


Hồng Xuyến 

06.06.2022

 

 

          

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI - Võ Nhựt Ngộ

Nhà nghiên cứu Võ Nhựt Ngộ tặng La Thuỵ tập GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI từ năm 2010. Qua tập tài liệu này, xem những bài thơ như bài ĐỘC TIỂU THANH KÝ của Nguyễn Du, bài ĐẰNG VƯƠNG CÁC của Vương Bột..., ta thấy các nhà thơ xưa tỏ ra rất tiêu sái thanh thoát trong khi tác thi Đường luật, mà chúng ta lâu nay cứ tưởng là phá cách, thất niêm, thất luật, hoá ra không phải thế. Bài viết này chúng tôi đã đăng trên lathuy.blogtiengviet từ năm 2011, giờ đăng lại. Xin mời đọc!
 

 
GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI – Võ Nhựt Ngộ
 
LỜI PHI LỘ
 
Nhà hiền triết Platon hỏi các bạn thực khách: trong một chậu nước đầy, bỏ cục gạch vào thì nước tràn ra. Còn bỏ con cá lớn bằng cục gạch vào thì nước chẳng tràn ra, là tại sao?
Các thực khách trả lời: kẻ bảo tại con cá nó hít nước, người bảo tại con cá nó ngo ngoe lội tới lội lui.
Phaton cho gia nhân mang chậu nước ra làm thí nghiệm, lúc bỏ con cá vào, thì nước cũng... tràn ra!
 
Với thí nghiệm đó, Platon cho chúng ta câu châm ngôn dùng dạy trẻ là «hãy quan sát trước khi suy luận» (observer avant de raisonner)
Nhưng còn có một câu châm ngôn sâu sắc hơn nằm trong quyển Tự điển Petit Larousse: «tôi rất yêu quí Platon nhưng tôi yêu quí sự thật nhiều hơn» (Platon m’est cher, mais la réalité me l’est davantage).
 
Các tiền nhân chúng ta có công lớn với văn học, trong những tác phẩm của họ, không thể tránh được đôi khi cũng có những sơ sót sai lầm. Khi nhận ra, hẳn các vị ấy cũng khuyên chúng ta một câu tương tự: «đừng vì ta mà phủ nhận sự thật».
 
Quyển GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI này rất mong đóng góp được sự giải tỏa một vài thắc mắc của thơ Đường Luật trong tinh thần đó của tiền nhân.
                                                    Trân trọng kính thưa.
                                                          Võ Nhựt Ngộ
 
LỜI NÓI ĐẦU
 
Các thi sĩ đời Đường (từ 618 đến 907 sau Công nguyên) có bày ra chơi một loại thơ 8 câu 7 chữ gọi là “Thất Ngôn Luật”, tức thơ Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) Đường Thi. Loại thơ “Thất Ngôn Luật” này cho ra nhiều tác phẩm bất hủ lưu truyền đến tận ngày nay, qua bao nhiêu năm tháng thăng trầm vẫn còn được nhiều người yêu thích.
 
Cách chơi theo thơ TNBC Đường Thi hiện nay có đôi chút khác nhau giữa chỗ này với chỗ kia. Có một lối chơi rất phổ thông, nhưng lại không tương ứng với tất cả những bài TNBC Đường Thi danh tiếng được lưu truyền. Có lẽ vì thi nhân đời Đường theo một cách chơi phóng khoáng hơn. Bài Giải Mã Đường Thi này xin đóng góp một sự nhận xét vô tư, căn cứ vào sự phân tách phần kỹ thuật được các thi nhân đời Đường áp dụng trên những kiệt tác của họ.
 
Các cách gọi: Đường Thi, thơ Đường hay thơ Đường Luật đều được người chơi tùy tiện dùng đến để chỉ định loại thơ thi nhân Việt Nam làm chơi theo thể “Thất Ngôn Luật” của những bài TNBC Đường Thi.
 
Để giảm bớt sự giải thích rườm rà, bài này xin trân trọng coi như độc giả không còn xa lạ với các danh từ Niêm, Luật, Trắc, Bằng, luật Trắc hay luật Bằng của câu thơ, của bài thơ, nhất-tam-ngũ bất luận, nhì-tứ-lục phân minh v.v.
 
********
 
PHẦN I. GIẢI MÃ VÀ CHỨNG MINH
 
Cụm từ GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI là cách nói gọn việc “Phần tách phần kỹ thuật của những bài TNBC Đường Thi lưu truyền, để nhận ra những cách chơi thực sự của thi nhân thời ấy”.
 
Như trên vừa nói, chủ yếu bài này nhắm vào sự nhận định cách làm loại thơ Thất Ngôn luật của Đường Thi.
 
Những bài Đường Thi lưu truyền cho thấy rằng thi nhân đời Đường dùng 2 bài Thất Ngôn Tứ Cú (TC) ráp lại, để tạo thành bài Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) Đường Thi.
 
Nên trước tiên, xin nói sơ qua về thơ Tứ Cú.
Thơ Thất Ngôn Tứ Cú (cũng thường được gọi là thơ Tứ Tuyệt hoặc thơ Tuyệt Cú) có 2 phép Niêm thông dụng là:
 
1-4 2-3 (câu 1 Niêm với câu 4 và câu 2 Niêm với câu 3)
1-3 2-4 (câu 1 Niêm với câu 3 và câu 2 Niêm với câu 4)
 
Xin nêu dẫn 4 bài Tứ Cú làm mẫu:
 
1.1 mẫu thơ Thất Ngôn Tứ Cú (TC)
Thơ TC Niêm 1-4 2-3, luật Bằng, 3 vần)
 
LƯƠNG CHÂU TỪ
 
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
                             Vương Hàn
 
Dịch thơ:
 
BÀI HÁT LƯƠNG CHÂU
 
Bồ đào, rượu rót chén lưu ly
Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi
Bãi cát say nằm, chê cũng mặc
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
                        Bùi Khánh Đản
 
Thơ TC Niêm 1-4 2-3, (Luật Trắc, 2 vần)
 
CỬU NGUYỆT CỬU NHẬT 
ỨC SƠN TRUNG HUYNH ÐỆ
 
Ðộc tại dị hương vi dị khách
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ
Biến tháp thù du thiểu nhất nhân.
                                Vương Duy
 
Dịch thơ:
 
NGÀY CHÍN THÁNG CHÍN 
NHỚ ANH EM CHƠI NÚI
 
Ðất khách một thân làm khách lạ
Mỗi khi giai tiết nhớ quê nhà
Anh em chắc hẳn đều lên núi
Hái đóa thù du thiếu một ta.
                   Bùi Khánh Ðản
 
Thơ TC Niêm 1-3 2-4, (Luật Bằng, 3 vần)
 
HOÀNH GIANG TỪ (kỳ nhị)
 
Hải thần lai quá ác phong hồi
Lãng đả Thiên Môn thạch bích khai
Chiết Giang bát nguyệt hà như thử
Ðào tự liên sơn phún tuyết lai.
                                  Lý Bạch
 
Dịch thơ:
 
BÀI HÁT Ở SÔNG HOÀNH GIANG (bài hai)
 
Thần bể đi qua gió ngụt trời
Thiên Môn đã mở nước triều sôi
Chiết Giang tháng tám mà như thế
Sóng cuộn cao như núi tuyết rơi.
                          Bùi Khánh Ðản
 
Thơ TC Niêm 1-3 2-4, (Luật Trắc, 3 vần)
 
TÍCH TRUNG TÁC
 
Tẩu mã tây lai dục đáo thiên
Từ gia kiến nguyệt lưỡng hồi viên
Kim dạ bất tri hà xứ túc
Bình sa vạn lý tuyệt nhân yên.
                             Sầm Tham
 
Dịch thơ:
 
CẢM TÁC KHI Ở TRONG SA MẠC
 
Giục ngựa về tây đuổi mặt trời
Xa nhà hai độ nguyệt đầy vơi
Đêm nay biết trọ nơi nào nhỉ ?
Bãi cát mênh mông chẳng có người.
                                 Đinh Vũ Ngọc
 
1.2 Lược dẫn sự Giải Mã
 
Sự phân tách và tổng hợp phần kỹ thuật sử dụng trên các bài Đường Thi lưu truyền, cho thấy cách chơi của các thi nhân tiền bối đời Đường rất là phóng khoáng như dưới đây.
 
* Dùng hai bài Tứ Cú (TC) một trên một dưới ráp lại để làm một bài TNBC Đường Thi.
* Nét riêng của bài TNBC Đường Thi đòi hỏi nơi 2 bài Tứ Cú :
a/ phải dùng cùng một vần
b/ hai câu 3-4 của bài TC trên và hai câu 1-2 của bài TC dưới phải là 1 cặp đối nhau. (gọi riêng số câu của từng bài TC để dễ nhận ra phép Niêm)
c/ Ngoài 2 quy định trên, hai bài TC hoàn toàn tự do dùng riêng những đặc điểm khác của thơ TC như : Niêm, Luật, dùng 2 vần hay 3 vần, dùng vần Trắc hay vần Bằng.
 
1.3 Những bài thơ minh chứng sự Giải Mã
 
Ngoài ý nghĩa là phần cốt lõi, phần quan trọng kế tiếp của bài thơ là Niêm và Luật.
Với thành phần là 2 bài TC tự do theo Niêm riêng, Luật riêng thì bài TNBC Đường Thi sẽ lọt vào nhiều dạng Niêm Luật khác nhau. Dưới đây xin xem xét từng chi tiết:
 
a/ Về Niêm
 
Hai bài Tứ Cú (TC), tạo ra bài Bát Cú, được tự do dùng 2 phép Niêm riêng của thơ TC (1-4 2-3 và 1-3 2-4), nên cho ra, trên nguyên tắc, 4 (2^2) kết hợp về Niêm cho bài TNBC Đường Thi là :
 
1/ TC trên 1-4 2-3, TC dưới 1-4 2-3
2/ TC trên 1-4 2-3, TC dưới 1-3 2-4
3/ TC trên 1-3 2-4, TC dưới 1-4 2-3
4/ TC trên 1-3 2-4, TC dưới 1-3 2-4
 
Thơ TNBC ĐƯỜNG THI tiêu biểu cho 4 cách Niêm vừa nêu trên
(Với cách ghi gọn: 1-4 2-3 là bài Tứ Cú với Niêm 1-4 2-3 và 1-3 2-4 là bài Tứ Cú với Niêm 1-3 2-4.)
 
Sau đây là 4 bài Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) tiêu biểu cho 4 cách Niêm khác nhau kể trên, lấy từ những bài TNBC ĐƯỜNG THI, hai bài Tứ Cú viết với 2 kiểu chữ khác nhau để phân biệt:
 
Cách Niêm 1/: trên 1-4 2-3, dưới 1-4 2-3
 
XUÂN TỊCH LỮ HOÀI
 
Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình (Niêm 1-4 2-3)
Tống tận đông phong quá Sở thành
Hồ điệp mộng trung gia vạn lý
Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam canh
Cố viên thư động kinh niên tuyệt (Niêm 1-4 2-3)
Hoa phát xuân thôi lưỡng mấn sinh
Tự thị bất quy, qui tiện đắc
Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh.
                                      Thôi Đồ
 
Dịch thơ:
 
NỖI CẢM HOÀI ĐÊM XUÂN NƠI LỮ THỨ
 
Nước trôi hoa rụng thảy vô tình
Đưa gió đông bay quá Sở thành
Trong mộng bướm bay, nhà vạn dậm
Trên cành quyên gọi, nguyệt ba canh
Năm tàn một cánh thư trông mõi
Xuân giục hai màu tóc đổi nhanh
Tự ý không về, về hẵn được
Ngũ hồ phong cảnh có ai tranh ?
                          Đinh Vũ Ngọc
 
Cách Niêm 2/: trên 1-4 2-3, dưới 1-3 2-4
 
HỌA GIẢ CHI XÁ NHÂN
“TẢO TRIỀU ĐẠI MINH CUNG” CHI TÁC
 
Giáng trách kê nhân báo hiểu trù (Niêm 1-4 2-3)
Thượng y phương tiến thúy vân cừu
Cửu thiên xướng hạp khai cung điện
Vạn quốc y quan bái miện lưu
Nhật sắc tài lâm tiên chưởng động (Niêm 1-3 2-4)
Hương yên dục bạng cổn long phù
Triệu bãi tu tài ngũ sắc chìếu
Bội thanh quy đáo Phụng Trì đầu.
                                  Vương Duy
 
Dịch thơ:
 
HỌA BÀI “CHẦU SỚM Ở CUNG ĐẠI MINH”
CỦA XÁ NHÂN ĐẠI CHÍ
 
Vừa nghe báo sáng lệnh kê nhân
Quan thượng y dân áo thúy vân
Chín bệ mở toang cung ngọc điện
Trăm quan mừng lạy đấng anh quân
Tay tiên đón nắng cao cao vẫy
Áo ngự xông hương lớp lớp vần
Tan cuộc triều đình vâng chiếu chỉ
Phượng Trì trở lại ngọc vang ngân.
                              Lê Nguyễn Lưu
 
Cách Niêm 3/: trên 1-3 2-4, dưới 1-4 2-3
 
THÀNH TÂY PHA PHIẾM CHU
 
Thanh nga hạo xỉ tại lâu thuyền (Niêm 1-3 2-4)
Hoành dịch đoản tiêu bi viễn thiên
Xuân phong tự tín nha tường động
Trì nhật từ khan cẩm lãm khiên
Ngư xuy tế lãng dao ca phiến (Niêm 1-4 2-3)
Yến xúc phi hoa lạc vũ diên
Bất hữu tiểu chu năng đảng tưởng
Bách hồ ná tống tửu như tuyền.
                                      Đỗ Phủ
 
Dịch thơ:
 
CHƠI THUYỀN PHÍA TÂY THÀNH
 
Mày xanh răng trắng tựa thuyền lầu
Sáo ngắn tiêu ngang đưa giọng sầu
Gió xuân dám động cột ngà trắng
Bóng xế nhìn qua dải gấm màu
Cá phun sóng gợn quạt ca dậy
Yến giẫm hoa bay múa tiệc chầu
Không có thuyền con chèo quẩy nước
Thì trăm vò rượu chảy về đâu ?!
                   Nguyễn Hữu Huyên
 
Cách Niêm 4/: trên 1-3 2-4, dưới 1-3 2-4
 
CHƯỚC TỬU DỮ BÙI ĐỊCH
 
Chước tửu dữ quân quân tự khoan (Niêm 1-3 2-4)
Nhân tình phiên phúc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan
Thảo sắc toàn kinh tế vũ thấp (Niêm 1-3 2-4)
Hoa chi dục động xuân phong hàn
Thế sự phù vân hà túc vấn
Bất như cao ngọa thả gia xan.
                            Vương Duy
 
Dịch thơ:
 
RÓT RƯỢU MỜI BÙI ĐỊCH
 
Mời anh cạn chén để nguôi sầu
Tráo trở tình đời khác sóng đâu
Tóc trắng quen thân còn thủ kiếm
Cửa son hiển đạt lại cười nhau
Mưa dầm cỏ dại càng phơi phới
Gió lạnh hoa xuân chịu dãi dầu
Chuyện thế mây trôi thôi chớ hỏi
Chi bằng ăn ngủ khỏi lo âu.
                    Đinh Vũ Ngọc
 
b/ Về Luật
 
Hai bài Tứ Cú (TC), tạo ra bài Bát Cú, mỗi bài tự do rơi vào Luật Bằng hay Luật Trắc. Nên cho ra trên nguyên tắc, 4 (2^2) kết hợp về Luật cho bài TNBC Đường Thi là:
 
a/ TC trên luật Bằng, TC dưới luật Bằng
b/ TC trên luật Bằng, TC dưới luật Trắc
c/ TC trên luật Trắc, TC dưới luật Bằng
d/ TC trên luật Trắc, TC dưới luật Trắc
 
Thơ TNBC ĐƯỜNG THI tiêu biểu cho 4 thể Luật
(với cách ghi gọn: Bằng là bài Tứ Cú dùng Luật Bằng, Trắc là bài Tứ Cú dùng Luật Trắc.)
 
Sau đây là 4 bài TNBC tiêu biểu cho 4 thể Luật khác nhau kể trên, lấy từ những bài TNBC Đường Thi:
 
Thể Luật a/: trên Bằng, dưới Bằng
 
ĐỒNG BÁCH QUÁN
 
Đông Nam nhất cảnh thanh tâm mục (Luật Bằng)
Hữu thủ thiên phong sáp thúy vi
Nhân tại hạ phương xung nguyệt thướng
Hạc tòng cao xứ phá yên phi
Nham thâm thủy lạc hàn xâm cốt (Luật Bằng)
Môn tĩnh hoa khai sắc chiếu y
Dục thức Bồng Lai kim tiện thị
Cánh ư hà xứ học vong ky.
                          Chu Phác
 
Dịch thơ:
 
ĐỒNG BÁCH QUÁN
 
Một cảnh Đông nam ngắm tuyệt vời
Núi xanh nghìn ngọn dựng chơi vơi
Vầng trăng soi khách đi bên dưới
Cánh hạc tung mây vút giữa trời
Động thẳm, thấu xương hơi nước lạnh
Cổng im, thấm áo sắc hoa ngời
Bồng Lai muốn biết là đây vậy
Học đạo cần chi phải chọn nơi.
                          Đinh Vũ Ngọc
 
Thể Luật b/: trên Bằng, dưới Trắc
 
PHỎNG LÃ DẬT NHÂN BẤT NGỘ
 
Đào nguyên diện diện tuyệt phong trần (Luật Bằng)
Liễu thị nam đầu phỏng ẩn nhân
Đáo môn bất cảm đề phàm điểu
Khan trúc hà tu vấn chủ nhân
Thành ngoại thanh sơn như ốc lý (Luật Trắc)
Đông gia lưu thủy nhập tây lân
Bế hộ trừ thư đa tuế nguyệt
Chủng tùng giai tác lão long lân.
                                 Vương Duy
 
Dịch thơ:
 
THĂM NGƯỜI ẨN HỌ LÃ, KHÔNG GẶP
 
Đào Nguyên gió bụi cách xa đây
Nam Liễu thăm ai ẩn chốn nầy
"Phàm điểu” dám đề lên cổng trước
Chủ nhân chẳng hỏi ngắm tre gầy
Non xanh ngoài quách như trong mái
Nước đổ nhà đông đến xóm tây
Đóng cửa bao năm ngồi viết sách
Hàng thông đã mọc vảy rồng đầy      
                           Lê Nguyễn Lưu
 
Thể Luật c/: trên Trắc, dưới Bằng
 
TỰ CỦNG LẠC CHU HÀNH 
NHẬP HOÀNG HÀ TỨC SỰ, 
KÝ PHỦ HUYỆN LIÊU HỮU
 
Lục thủy thương thiên lộ hướng đông (Luật Trắc)
Đông Nam sơn khoát đại hà thông
Hàn thụ y vi viễn thiên ngoại (Bỏ Luật chữ thứ 6)
Tịch dương minh diệt loạn lưu trung
Cô thôn kỷ tuế lâm y ngạn (Luật Bằng)
Nhất nhạn sơ tình há sóc phong
Vi báo Lạc Kiều du hoạn lữ
Thiên chu bất hệ dữ tâm đồng.
                             Vi Ứng Vật
 
Dịch thơ:
 
KỂ VIỆC TỪ CỦNG LẠC ĐI THUYỀN 
VÀO SÔNG HOÀNG HÀ, GỬI CÁC BẠN 
CÙNG LÀM QUAN Ở PHỦ VÀ HUYỆN
 
Nước biếc trời xanh lối tới đông
Đông nam núi rộng một dòng thông
Cây lạnh mịt mù trời thẩm thẩm
Nắng chiều thấp thoáng nước bềnh bồng
Bờ kia mấy độ thôn nằm quạnh
Gió bấc trời trong nhạn liệng không
Nhắn giúp Lạc Kiều bè bạn cũ:
Lòng với thuyền con chẳng buộc đồng.
                                    Lê Nguyễn Lưu
 
Thể Luật d/: Trên Trắc, dưới Trắc
 
KHÚC GIANG ĐỐI TỬU
 
Uyển ngoại giang đầu tọa bất quy (Luật Trắc)
Thủy tinh cung điện chuyển phi vi
Đào hoa tế trục dương hoa lạc
Hoàng điểu thời kiêm bạch điểu phi
Túng ẩm cửu biền nhân cộng khí (Luật Trắc)
Lãn triều chân dữ thế tương vi
Lại tình cánh giác Thương Châu viễn
Lão đại đồ thương vị phất y.
                                 Đỗ Phủ
 
Dịch thơ:
 
UỐNG RƯỢU TRÊN SÔNG KHÚC GIANG
 
Ngồi mãi bên vườn bến Khúc Giang
Thủy tinh cung điện bóng mờ gương
Hoa tơi tả rụng đào chen liễu
Chim nhởn nhơ bay trắng lẩn vàng
Chén rượu thường say, người đã chán
Phiên chầu vẫn trễ, tiếng còn mang
Biết rằng hoạn lộ xa tiên cảnh
Tuổi tác chưa về, nghĩ tự thương.
                           Bùi Khánh Đản
 
1.4 Pha trộn hai phần Niêm Luật
 
Bài thơ theo cách Niêm nào thì cũng tự nhiên rơi vào một thể Luật, tùy cảm hứng của thi nhân và tùy ngôn từ dùng diễn đạt.
Do đó nên phần Niêm và phần Luật của bài TNBC ĐƯỜNG THI luôn xảy ra một cách vô chừng, hoàn toàn không do sự cố ý lựa chọn của tác giả.
Chỉ khi pha trộn đầy đủ (2^2 x 2^2 = 16) như cách trình bày dưới đây thì mới thấy hết tất cả 16 dạng Niêm Luật khả hữu cho thơ TNBC ĐƯỜNG THI.
 
Trước ghép phép Niêm 1/ với 4 thể Luật a, b, c, d để có:
 
1/a TC trên 1-4 2-3 luật Bằng, TC dưới 1-4 2-3 luật Bằng
1/b TC trên 1-4 2-3 luật Bằng, TC dưới 1-4 2-3 luật Trắc
1/c TC trên 1-4 2-3 luật Trắc, TC dưới 1-4 2-3 luật Bằng
1/d TC trên 1-4 2-3 luật Trắc, TC dưới 1-4 2-3 luật Trắc
 
Và cũng như thế với 2/, 3/ và 4/ thì có:
 
2/a, 2/b, 2/c, 2/d
3/a, 3/b, 3/c, 3/d
4/a, 4/b, 4/c, 4/d
 
Nên có tất cả 16 dạng (hoặc 16 bộ) Niêm Luật khả dụng cho thơ Thất Ngôn Bát Cú ĐƯỜNG THI.
 
Như trên đã nói phớt qua, làm thơ không phải là làm toán, mà là bày tỏ tình ý của mình. Hứng thơ cho những tứ thơ, tứ thơ dùng ngôn từ tương ứng để diễn đạt, thi nhân dùng tai thẩm âm để sắp xếp những ngôn từ đó thành câu thuận tai (Luật thích nghi) và cũng dùng tai thẩm âm đan xen các câu nối tiếp nhau sao cho có âm điệu hài hòa (Niêm thích nghi). Và bài TNBC ĐƯỜNG THI sẽ tự nhiên lọt vào dạng Niêm Luật này hay khác của 16 dạng Niêm Luật khả hữu nêu trên.
 
Thế nên có những dạng Niêm Luật có nhiều tác phẩm, có những dạng có ít tác phẩm hơn. Trong 3 quyển sách tham khảo:
ĐƯỜNG THI TRÍCH DỊCH của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, ĐƯỜNG THI CẢM DỊCH của Đinh Vũ Ngọc và ĐƯỜNG THI TUYỂN DỊCH của Lê Nguyễn Lưu, số bài TNBC ĐƯỜNG THI được tuyển chọn không có đủ mặt trong 16 dạng Niêm Luật. Nơi những dạng không có ĐƯỜNG THI làm mẫu thì dùng tạm những bài TNBC Đường Luật của người chơi hiện đại để cho thấy đầy đủ 16 dạng Niêm Luật có trên nguyên tắc.
 
Ở 2 dạng thơ phổ thông có nhiều bài nhất và tương ứng với Niêm Luật qui định bởi dải số 1-8 2-3 4-5 6-7 thì chỉ nêu 1 bài ĐƯỜNG THI làm mẫu để thấy dạng thơ ấy ra sao. Còn với 14 dạng còn lại thuộc loại (nằm ngoài dải số) cần nêu ra để chứng minh qui tắc cấu tạo đề xuất trong sự giải mã thì tìm gặp được bao nhiêu bài đều nêu cả.
Xin nhắc lại cách ghi gọn: 1-4 2-3 hay 1-3 2-4 là Niêm, Bằng hay Trắc là Luật, bài Tứ Cú ghi trước là ở trên, ghi sau là ở dưới.